Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Bài 2: Thực trạng CPĐT Việt Nam

THỰC TRẠNG CPĐT VIỆT NAM

Để có góc nhìn tổng quan về thực trạng Chính phủ điện tử Việt Nam hiện nay đang ở đâu? Có thể dựa vào một số phương pháp như:

- Dựa vào phương pháp đánh giá chỉ số xếp hạng của Liên hợp quốc EGDI
- Dựa vào 4 giai đoạn phát triển Chính phủ điện tử của Gartner
- Dựa vào các chỉ số sẵn sàng phát triển công nghệ thông tin và truyền thông ICT Index
- Và các phương pháp khác.

I. XẾP HẠNG CPĐT VIỆT NAM THEO EGDI INDEX


Chỉ số xếp hạng EGDI của Việt Nam năm 2012 & 2014

Tìm hiểu phương pháp đánh giá chỉ số EGDI của Liên hợp quốc chi tiết hơn tại liên kết này

II. ĐÁNH GIÁ 4 GIAI ĐOẠN GARTNER ĐƯA RA
Các giai đoạn phát triển CPĐT thế giới

Phát triển CPĐT là quá trình lâu dài, liên tục, qua các giai đoạn khác nhau. Việc phân chia các giai đoạn phát triển CPĐT nhằm xác định mức độ phát triển CPĐT của mỗi cơ quan, cũng như làm cơ sở xác định lộ trình, kế hoạch triển khai CPĐT đúng hướng, phù hợp với điều kiện, nhu cầu thực tế.
Các tổ chức khác nhau có cách phân chia các giai đoạn phát triển CPĐT của riêng mình, trong đó nổi bật là cách phân chia của Gartner (một công ty tư vấn, nghiên cứu hàng đầu thế giới về CNTT), bao gồm các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Hiện diện (Presence) 
Sự phát triển CPĐT giai đoạn này được đặc trưng bởi sự hiện diện các cơ quan chính phủ trên mạng Internet, mục đích chính là cung cấp các thông tin cơ bản về các cơ quan chính phủ như chức năng, nhiệm vụ, địa chỉ liên hệ, thời gian làm việc và có thể cung cấp thêm các văn bản liên quan đến xã hội.

Giai đoạn 2: Tương tác (Interaction) 
Trong giai đoạn này, các trang thông tin điện tử của các cơ quan chính phủ cung cấp các chức năng tìm kiếm cơ bản, cho phép tải về các biểu mẫu điện tử, các đường liên kết với các trang thông tin điện tử liên quan, cũng như địa chỉ thư điện tử của các cơ quan, cán bộ chính phủ.

Giai đoạn 3: Giao dịch (Transaction) 
Trong giai đoạn này, các trang thông tin điện tử của các cơ quan chính phủ cho phép thực hiện hoàn chỉnh các dịch vụ, bao gồm việc nộp hồ sơ, xử lý hồ sơ, trả phí dịch vụ trực tuyến.

Giai đoạn 4: Chuyển đổi (Transformation) 
Giai đoạn này là mục tiêu dài hạn của các cơ quan chính phủ. Ngoài việc thực hiện các chức năng trong giai đoạn 3, CPĐT giai đoạn này cung cấp cho người dân một điểm truy cập duy nhất tới các cơ quan chính phủ để thực hiện mọi giao dịch, các hoạt động của cơ quan chính phủ là minh bạch với người dân.

Thực trạng CPĐT Việt Nam theo 4 giai đoạn của Gartner

Nếu xét theo 4 giai đoạn trên, CPĐT Việt Nam hiện nay không thể quy đồng đánh giá cả nước như nhau. Theo từng cơ quan, các giai đoạn hiện diện sẽ khác nhau.

Giai đoạn 1: hiện  diện
Ví dụ: với các cơ quan chính phủ, bộ ngành, tỉnh thành có thể nói 99% đã có website, cung cấp thông tin hoạt động, cung cấp biểu mẫu điện tử, cơ quan chuyên trách, cơ quan thực hiện các TTHC.

Tuy nhiên với các cơ quan cấp phường xã (có khoảng 10.000 cơ quan), chiếm 1/3 số lượng cơ quan hành chính Việt Nam, ứng dụng CNTT còn cực kỳ hạn chế. Có thể nói, đa số các cơ quan cấp phường/xã đang dừng lại ở giai đoạn 1: hiện diện.

Giai đoạn 2: tương tác - các bộ ngành, sở ngành, quận huyện: hầu hết đã đạt được ở mức độ này.

Giai đoạn 3: (giao dịch trực tuyến) - còn rất hạn chế.

Giai đoạn 4 (1 Chính phủ - One Government): chưa có bất kỳ hành lang pháp lý nào về "Một Chính phủ" ở giai đoạn hiện nay.

Như vậy CPĐT Việt Nam, xét ở mặt bằng chung các cơ quan đang dừng lại ở giai đoạn 2, xét theo 4 giai đoạn của Gartner.

Đối với các cơ quan khác nhau, mức độ phát triển khác nhau. Không có sự đồng nhất, nằm trong kế hoạch tổng thể của Chính phủ để đạt được mặt bằng chung như nhau.

Việc xây dựng CPĐT hiện nay mạnh cơ quan nào, cơ quan ấy làm, không tuân theo kế hoạch tổng thể chung trên toàn quốc.

Về mặt hành lang pháp lý, mặc dù đã có:

- QĐ Phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020

- Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ : Về Chính phủ điện tử

Tuy nhiên trên quan điểm cá nhân tôi vẫn cho rằng rất khó để toàn quốc hoàn thành mức 2 trên toàn quốc trong 5 năm tới.

III. CHỈ SỐ ICT INDEX

Báo cáo Viet Nam ICT Index là báo cáo đánh giá xếp hạng chính thức của Bộ TT&TT đối với tình hình ứng dụng và phát triển CNTT của các bộ, ngành, tỉnh thành và các doanh nghiệp. Báo cáo do Hội Tin học Việt Nam phối hợp với Vụ CNTT (trực thuộc Bộ TT&TT) thực hiện.

Tham khảo bảng xếp hạng ICT Index năm 2015
Bảng xếp hạng ICT Index các cơ quan Bộ, ngang Bộ năm 2015
Bảng xếp hạng ICT Index các tỉnh mức KHÁ năm 2015
- Tham khảo Bảng tổng hợp chỉ số Ict Index và các chỉ tiêu thành phần tại liên kết này

Như vậy, có thể thấy rằng dù dùng phương pháp nào Chính phủ điện tử Việt Nam vẫn đang dừng ở mức trung bình của thế giới. Thật buồn cho người dân và các doanh nghiệp nói chung; Nhưng thật vui cho các doanh nghiệp CNTT. Thị trường còn rất hoang sơ và đầy tiềm năng!

Tham khảo, liên kết:


Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2016

Bài 1. Định nghĩa Chính phủ điện tử (CPĐT)

ĐỊNH NGHĨA CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

Định nghĩa Chính phủ điện tử hiện nay đã được luật hóa: Theo công văn số 1178/BTTTT-THH ngày 21/4/2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam thì CPĐT được định nghĩa như sau:

“Chính phủ điện tử là Chính phủ ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.

CPĐT thông thường bao gồm các nhóm dịch vụ: 
  • G2C - Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ cho người dân; 
  • G2B - Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ cho doanh nghiệp; 
  • G2G - Cung cấp thông tin và các dịch vụ liên quan giữa các cơ quan Chính phủ với nhau; 
  • G2E - Chính phủ cung cấp các thông tin và dịch vụ cho cán bộ, công chức, viên chức.
Trong đó:
  • G: Government - là các cơ quan nhà nước
  • B: Business - là các doanh nghiệp
  • C: Citizen - là công dân
  • E: Employees - là cán bộ công chức"
Như vậy Chính phủ điện tử là các bài toán xoanh quanh mối quan hệ của Chính phủ (G) và 4 đối tượng G, B, C, E.

Các kênh B2B (doanh nghiệp với doanh nghiệp), B2C (doanh nghiệp với công dân) hiện nay không nằm trong kế hoạch ứng dụng CNTT của Chính phủ Việt Nam.

Đặc thù của 4 đối tượng G, B, C, E:

G: có khoảng 33 nghìn cơ quan hành chính Việt Nam, được chia theo 4 cấp
- Chính phủ, bộ ngành
- Tỉnh thành, sở ngành
- Quận huyện
- Phường xã

C: Công dân Việt Nam, hiện có khoảng 80 triệu người.
- Tập trung ở TP Hồ Chí Minh khoảng trên 8 triệu
- Tập trung ở Hà Nội khoảng gần 8 triệu
- Thanh Hóa: khoảng 3.5 triệu
- Nghệ An: khoảng 3 triệu
- Các tỉnh thành khác trung bình khoảng 1 triệu dân

B: Tổng số doanh nghiệp trên cả nước khoảng 500.000 doanh nghiệp

E: Cán bộ công chức
- Cán bộ khối cơ quan hành chính: khoảng 300.000 người
- Cán bộ không chuyên trách cấp xã: khoảng 1.2 triệu người.
- Cán bộ các đơn vị sự nghiệp: khoảng 2.5 triệu người

Đặc thù các kênh giao tiếp
Khái quát 4 kênh giao tiếp của Chính phủ điện tử

Kênh G2G Chính phủ với Chính phủ

Các cơ quan nhà nước khi có nhu cầu làm việc với nhau, sẽ thông qua đường công văn (document).
Như vậy: xét trong phạm vi hẹp là 1 tỉnh thành, bộ ngành: các cơ quan gửi nhận văn bản để tương tác với nhau. 1 tỉnh có khoảng 500 - 700 đơn vị hành chính. (Thanh Hóa là tỉnh nhiều đơn vị hành chính nhất trên toàn quốc).

Xét ở phạm vi tổng thể quốc gia: cần giải quyết bài toán gửi nhận văn bản giữa 33 nghìn cơ quan. Mặc dù trong thực tế sẽ có nhiều cơ quan không bao giờ gửi nhận văn bản với nhau, tuy nhiên về mặt nguyên tắc sẽ luôn phải đảm bảo kết nối này. Tôi sẽ phân tích vấn đề này ở một bài khác.

Bài toán liên thông văn bản này giai đoạn hiện nay đã được Chính phủ chỉ đạo các tỉnh thành, bộ ngành liên thông gửi/ nhận văn bản.

Bộ Thông tin và Truyền thông đã hướng dẫn kỹ thuật liên thông theo Công văn số 2803/BTTTT-THH ngày 01/10/2014.

Mặc dù vậy, kết quả liên thông hiện nay vẫn rất hạn chế, dừng ở mức UBND các tỉnh thành và Văn phòng các Bộ ngành liên thông với Văn phòng Chính phủ, tức là khoảng 100/ 33.000 cơ quan hành chính! Liên thông này là quan hệ 1 - N (Văn phòng Chính phủ - với các tỉnh thành, bộ ngành), không phải liên thông N to N -1.

Kể cả làm tốt bài toán liên thông 100% các cơ quan hành chính: nếu chỉ dừng lại ở liên thông văn bản (vỏ bì thư), nội dung văn bản vẫn phải xử lý bằng cơm (con người), thì hiệu quả của bài toán liên thông văn bản vẫn còn rất thấp.

Trong tương lai không xa, hi vọng sẽ có thêm hành lang pháp lý đưa ra các bài toán liên thông vỏ văn bản (bì thư), và liên thông ruột văn bản (nội dung) là các thông điệp (messaging) chứa thông tin hữu ích và các file đính kèm (attachment) theo từng trường hợp cụ thể. Hạn chế tối đa những công việc không cần phụ thuộc yếu tố con người.

Kênh Chính phủ với công dân, doanh nghiệp: G2C và G2B

Công dân có thể tương tác với Chính phủ trên internet thông qua các kênh giao tiếp như: cổng thông tin, email, cây kios, thiết bị di động...

Công dân làm việc trực tiếp với các cơ quan nhà nước thông qua BỘ PHẬN 1 CỬA hoặc DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN.

Về mặt nguyên tắc hệ thống 1 cửa: công dân, doanh nghiệp không làm việc với cán bộ thụ lý hồ sơ để tránh vấn đề khó dễ, tham nhũng. Bộ phận 1 cửa sẽ tiếp nhận hồ sơ/ trả kết quả theo phiếu hẹn cho công dân, doanh nghiệp.

Về dịch vụ công trực tuyến:

Tại Điều 3, Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/7/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông nêu rõ quy định các mức độ dịch vụ công trực tuyến của cơ quan hành chính nhà nước cung cấp cho tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng, gồm 4 mức:
- Mức độ 1: Là dịch vụ công trực tuyến đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí và lệ phí thực hiện dịch vụ.
- Mức độ 2: Là dịch vụ công trực tuyến mức 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu. Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ
- Mức độ 3: Là dịch vụ công  trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến các cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.
- Mức độ 4: Là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện cho người sử dụng
Các cơ quan, đơn vị khi đăng tải dịch vụ công trực tuyến cần xem xét các điều kiện và khả năng cung cấp dịch vụ để xác định mức độ dịch vụ công trực tuyến đạt được để công bố.

Thực tế hiện nay phát huy hiệu quả chỉ có dịch vụ công mức 1, 2. Dịch vụ công mức 3, 4 còn chiếm tỷ trọng quá thấp trong 5.400 TTHC Việt Nam và số lượng hồ sơ giao dịch phục vụ công dân, doanh nghiệp.

Hệ thống dịch vụ công và một cửa điện tử hiện nay được định nghĩa cát cứ theo các đơn vị hành chính. Khác biệt rất rõ so với các nước tiên tiến.

Ở các nước tiên tiến, hình thành khái niệm MỘT CHÍNH PHỦ (One Government), cơ quan hành chính là trong suốt với công dân/ doanh nghiệp. Công dân/ doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ/ nhận kết quả trực tuyến hoặc hồ sơ trực tiếp tại bất kỳ cơ quan hành chính nào.

So sánh nhanh với hệ thống ngân hàng. Anh chị có thể mở thẻ ở bất kỳ chi nhánh nào, rút tiền ở bất kỳ cây ATM hoặc Phòng giao dịch nào. Ở mức cao hơn là bài toán liên ngân hàng. Tất nhiên bài toán liên ngân hàng là đơn giản hơn rất nhiều (0.0001%) độ phức tạp so với bài toán tổng thể CPĐT.

Với Việt Nam hiện nay, thủ tục hành chính của cơ quan nào, công dân doanh nghiệp phải đến cơ quan đấy giao dịch, về địa phương mình cư trú giao dịch. Thật sự là rất phiền toái và mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc.

Kênh Chính phủ với Công chức G2E

- Là các hệ thống nội bộ phục vụ tác nghiệp. Tùy đặc thù từng cơ quan hành chính, mức độ ứng dụng là khác nhau.

- Với các hệ thống tài chính, kho bạc có thể nói là ứng dụng rất tiên tiến, tuy nhiên hiệu quả sử dụng vẫn luôn phụ thuộc vào yếu tố con người: có muốn dùng, có chịu dùng hay không?

- Vì một số lý do kênh G2E xin phép dừng lại ở đây, không đi sâu hơn.

Trên đây là khái quát sơ bộ về Định nghĩa Chính phủ điện tử Việt Nam, trên cơ sở định nghĩa này chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận ở các bài tiếp theo.

Các liên kết/ tham khảo: